Home Là gì Diến Biến Và Kết Quả

Diến Biến Và Kết Quả

by Admin

Đồng Khởi là phong trào nổi dậy đấu tranh chống lại chính quyền Ngô Đình Diệm của quân và dân miền Nam trong thời kì chiến tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hãy cùng Báo Song Ngữ tìm hiểu rõ hơn về hoàn cảnh, diễn biến, kết quả cũng như ý nghĩa lịch sử của phong trào Đồng Khởi nhé.

Phong trào Đồng Khởi nổ ra trong hoàn cảnh nào?

Sau hiệp định Giơ-ne-vơ (tháng 7/1954), đất nuớc ta tạm thời chia thành hai miền. Ở miền Nam, quân đội Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định, lập nên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm và quân đội tay sai. Chúng tiến hành nhiều cuộc thảm sát đẫm máu ở Cam Lộ, Củ Chi, Mỏ Cày; đồng thời thực hiện chính sách chiến lược tàn ác mang tên “tố cộng, diệt cộng” nhằm loại bỏ những người cộng sản yêu nước.

Advertisement

Đầu năm 1959, Mỹ – Diệm ban hành chiến lược mang tên “Luật 10/59”, tăng cường sử dụng bạo lực phát xít, lê máy chém khắp miền Nam, thẳng tay đàn áp, giam giữ và sát hại quần chúng nhân dân, phơi bày bản chất xâm lược và bán nước của chúng.

Chỉ trong vòng 4 năm (1955 – 1958), cả miền Nam tổn thất số lượng lớn các cán bộ; gần 8 vạn người bị giết; hơn 80 vạn cán bộ, nhân dân bị bắt giam và tù đày; 20 vạn bị tra tấn đánh đập dã man.

Advertisement

Ở Gia Định, Biên Hòa, mỗi tỉnh chỉ còn môt chi bộ; ở Bến Tre, địch đã giết hại hơn 2.300 người, bỏ tù hơn 15.000 người, hàng vạn người bị bắt giam, đánh đập và tra khảo tàn nhẫn.Trong vòng kìm kẹp của Mỹ – Diệm, quân và dân miền Nam không chịu khuất phục, đã đứng lên kết thành một khối, siết chặt đội ngũ, chờ thời cơ để sẵn sàng nổi dậy đấu tranh giành lại chính quyền.

Advertisement

Tháng 01/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức cuộc họp thống nhất ban hành Nghị quyết 15. Nghị quyết nêu rõ mục tiêu, con đường của cách mạng miền Nam lúc này là “lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ ách thống trị đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của Nhân dân”.

Đến cuối năm 1959, Nghị quyết 15 về đến các địa phương miền Nam làm bùng lên ngọn lửa cách mạng trên diện rộng, mở ra cao trào cách mạng mới. Phong trào Đồng Khởi toàn miền Nam Việt Nam bắt đầu từ đây.

Phong trào Đồng Khởi do ai lãnh đạo?

Phong trào Đồng Khởi do tầng lớp quân và dân cộng sản miền Nam lãnh đạo. Tiêu biểu là phong trào Đồng khởi Bến Tre, có Đội quân tóc dài do nữ tướng tài ba Nguyễn Thị Định đứng lên lãnh đạo.

Diễn biến phong trào Đồng Khởi

Đồng Khởi Bến Tre

Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre nổ ra trong hoàn cảnh nào?

Trược sự khủng bố tàn sát của Mĩ – Diệm trong những năm 1957 – 1959, nhân dân miền Nam không chiụ khuất phục mãi, không còn con đường nào khác là phải vùng lên phá tan ách kìm kẹp.

Cuối năm 1959 – 1960, khắp miền Nam Việt Nam bấy giờ bùng lên phong trào “Đồng khởi”, khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Bến Tre chính là nơi phong trào “Đồng khởi” diễn ra mạnh mẽ nhất.

Vì sao nói Bến Tre là tiêu biểu của phong trào Đồng Khởi?

Dưới ánh sáng dẫn đường của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 của Trung ương Đảng, hàng vạn nhân dân Bến Tre đã đoàn kết, chung lòng, với phương châm “hai chân, ba mũi giáp công” đã làm nên cuộc Đồng Khởi hào hùng trên quê hương Bến Tre vào ngày 17/1/1960.

Cao trào Đồng khởi diễn ra tại ba xã Định Thủy, Bình Khánh, Phước Hiệp – huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre bùng lên thành ngọn lửa lan rộng ra cả huyện, cả tỉnh, ở các tỉnh Nam Bộ, Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, đặc biệt làm thay đổi cục diện ở miền Nam, phá vỡ một mảng lớn hệ thống chính quyền cơ sở của địch.

Phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre đã đi vào lịch sử truyền thống cách mạng hào hùng của Việt Nam, được nhân dân cả nước nói chung và một số nước bạn trên thế giới nói riêng biết đến; phong trào là sự kiện lịch sử trọng đại, một dấu son chói lọi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước quân và dân miền Nam.

Trong phim tư liệu “Bến Tre Đồng Khởi”, Thượng tướng Trần Văn Trà cũng nói về Đồng Khởi Bến Tre như một giai đoạn chiến lược vô cùng quan trọng làm chuyển biến về chiến lược của cả cuộc cách mạng. “Đây là mốc chiến lược đầu tiên mà ta vượt qua những khó khăn để đi lên thế ổn định.

Thế thì không chỉ Bến Tre làm đồng khởi đâu, nhiều tỉnh cũng làm đồng khởi, có khi có nơi làm đồng khởi trước nữa kia. Bến Tre tiêu biểu hơn ở chỗ là cuộc Đồng Khởi Bến Tre thật sự là một cuộc đồng khởi, một cuộc khởi nghĩa có nhân dân rõ ràng. Có nhân dân, tuy rằng vũ trang không có bao nhiêu, nhưng nó rất tiêu biểu ở cái chỗ huy động được toàn dân đứng lên cướp chính quyền từ một số xã rồi mới lan rộng ra các huyện cả tỉnh…”.

Tây Nam Bộ

Tại Tây Nam bộ, cùng thời gian với khởi nghĩa Bến Tre, tỉnh Kiến Phong cũng đứng lên đấu tranh. Các đại đội 272, 274 đã có chiến đấu oanh liệt, làm bị thương 25 tên lính, chiếm trụ sở xã, thu súng và làm chủ xã Mỹ Hòa. Đến ngày 20/1/1960 thì tỉnh đã tiêu diệt, làm bị thương 160 và bắt sống 40 tên địch, giáo dục cải tạo 40 binh lính Việt Nam Cộng hòa. Một vài địa điểm tiêu biểu:

  • Trong thời gian ấy, nhân dân huyện Hồng Ngự cũng nổi dậy. Bắt đầu từ ba xã Tân Thành, Thường Thới, Thường Phước. Đại đội 271 tiêu diệt đồn Cả Cái, giải phóng Tân Thành.
  • Tại Cao Lãnh, lực lượng vũ trang xã Bình Thạnh đột kích đồn Bà Cò, làm chủ 1 ấp.

Từ ngày 6/3/1960, phong trào càng lan rộng ra các tỉnh:

  • Tại Cà Mau, tiểu đoàn Ngô Văn Sở phục kích tiêu diệt và bắt sống 150 tên lính, thu 131 súng, giải phóng nhiều xã.
  • Tại tỉnh Sóc Trăng, đầu năm 1960, các vùng nông thôn tại các huyện Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên, Gia Rai, Hồng Dân, Vĩnh Lộc lần lượt giành lại quyền làm chủ từ tay chính quyền thực dân.

Đông Nam Bộ

Sau khi kiến nghị Trung ương Đảng Lao động nâng cao đấu tranh vũ trang, xứ ủy Nam Bộ quyết định mở một trận tiến công lớn. Mục tiêu xác định lấy thêm vũ khí để nhanh chóng phát triển lực lượng, mở rộng phong trào “Đồng khởi”, lan sang Đông Nam Bộ.

Địa điểm ở bốt Tua Hai, tiền tiêu án ngữ biên giới Việt-Miên. Lực lượng Quân lực Việt Nam Cộng hòa gồm 2 trung đoàn, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội pháo.

Lực lượng giải phóng gồm 1 tiểu đoàn và một số đoàn quân giáo phái tấn công ngày 26/1/1960. Quân đội Việt Nam Cộng hòa thiệt hại gần 500 binh sĩ, hơn 500 bị bắt sống, tịch thu 1500 súng các loại.

Trận Tua Hai mở đầu cho cuộc đồng khởi ở Đông Nam Bộ. Sau Tua Hai, lực lượng giải phóng Tây Ninh gỡ 50% đồn bốt, giải phóng 24 xã và làm chủ nhiều phần tại 19 xã khác.

Đến ngày 16/3/1961, lực lượng Tiểu đoàn 800 quân Giải phóng miền Đông Nam Bộ tấn công Chi khu quân sự Hiếu Liêm, đến ngày hôm sau tấn công bốt An Lạc, hỗ trợ dân chúng ở các nơi nổi dậy đấu tranh.

Bên cạnh hoạt động quân sự, các phong trào chính trị tại đây cũng diễn ra, điển hình là các cuộc biểu tình thị uy của công nhân đồn điền cao su các tỉnh Biên Hòa, Bà Rịa, Thủ Dầu Một vào cuối năm 1960. Đoàn biểu tình phá hủy các trụ sở hành chính, bốt gác của quân đội Việt Nam Cộng hòa.

Liên khu V

Do phần lớn lực lượng quân sự đã tập kết ra Bắc, lực lượng hoạt động chính trị ở Tây Nguyên bị cô lập khá nhiều.

Những cuộc nổi dậy tự phát đầu tiên của các dân tộc thiểu số như Ba Na, Chăm, Răgklay… Cuộc khởi nghĩa lớn nhất phải kể đến ở Trà Bồng (Quảng Ngãi) phát động phong trào Đồng Khởi trên toàn miền nam. Sau Nghị quyết trung ương 15, Bộ Chỉ huy quân sự Khu 5 thành lập do Võ Chí Công đứng đầu, hoạt động bằng những chỉ thị trực tiếp từ miền bắc và đón cán bộ vào.

Ngày 31/7/1960, lực lượng vũ trang tỉnh Bình Thuận giành quyền làm chủ ở một số khu vực giáp ranh giữa đồng bằng và rừng núi. Lực lượng tiêu diệt và bắt sống được hơn 300 binh sĩ. Đây là trận mở màn, trên thực tế có rất nhiều trận tấn công ở miền núi và đồng bằng.

Để đáp trả, quân lực Việt Nam Cộng hòa dồn quân càn quét những lực lượng Giải phóng tại từng tỉnh. Chúng uy hiếp, khủng bố tinh thần người dân, giết hại dã man những người đứng đầu các cuộc Đồng Khởi ở địa phương. Tây Nguyên là địa bàn ít dân, Quân đội Việt Nam Cộng hòa lập nhiều đồn bót nhằm cô lập Quân Giải phóng với các bản làng người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên chúng cũng chỉ kiểm soát được các đô thị và những nơi đông dân, không chiếm nổi những buôn làng đã được Việt Minh kiểm soát.

Kết quả của phong trào Đồng Khởi

Đến cuối năm 1960, nhân dân ta đã làm chủ được nhiều thôn, xã ở Nam Bộ, Tây Nguyên và cả Nam Trung Bộ.

Kết quả lớn nhất của phong trào Đồng Khởi

Kết thúc phong trào Đồng Khởi, ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời. Đến đầu năm 1961, lực lượng Quân Giải phóng miền Nam cũng được thành lập, bằng cách thống nhất các lực lượng du kích ở từng địa phương và thành lập mới những tiểu đoàn bộ đội tập trung.

Ý nghĩa của phong trào Đồng Khởi

Phong trào Đồng khởi của quân dân miền Nam đã khiến chính quyền Ngô Đình Diệm trở nên nao núng, rối ren, giáng một đòn nặng nề vào chính sách thực dân mới của Mĩ, làm lung lay tận gốc chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Ý nghĩa quan trọng nhất của phong trào Đồng Khởi

Phong trào “Đồng khởi” trong toàn dân đã đánh dấu bước phát triển mới của mặt trận Việt Minh, cho ra đời Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Lực lượng cách mạng miền Nam chuyển từ thế gìn giữ lực lượng sang thế tiến công.

Tại sao nói phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) đã chuyển cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế gìn giữ lực lượng sang thế tiến công?

Nói phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) đã chuyển cách mạng miền Nam Việt Nam từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công là vì:

Từ ban đầu, chủ yếu là đấu tranh chính trị. Từ năm 1954 đến 1959, nhân dân chỉ đấu tranh hòa bình, giữ gìn và phát triển lực lượng cách mạng. Sau đó, đến năm 1960, đã tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang giành chính quyền.

Sơ đồ tư duy phong trào Đồng Khởi

Xem thêm:

Bài viết trên đây Báo Song Ngữ đã cung cấp đầy đủ các thông tin quan trọng về phong trào Đồng Khởi (1959 – 1960) của nhân dân miền Nam Việt Nam. Các bạn hãy like, share để chia sẻ những thông tin hữu ích này nhé.

You may also like

Leave a Comment